Liệu pháp áp lực trong điều trị suy tĩnh mạch

Liệu pháp nén áp lực là nền tảng trong điều trị bảo tồn bệnh tĩnh mạch mạn tính. Đối với những bệnh nhân bị loét tĩnh mạch, lợi ích của liệu pháp nén dài hạn (đeo tất hoặc băng ép) đã được chứng minh nhiều lần trong các thử nghiệm ngẫu nhiên. Vết loét lành tới 97 % ở những người bị loét tĩnh mạch tuân thủ điều trị. Không những vậy, bệnh nhân bị phù hoặc thay đổi da mà không có vết loét cũng được hưởng lợi.
Liệu pháp này bao gồm 4 phương pháp: tất áp lực (ECS), băng chun, dụng cụ áp lực có thể thay đổi (ACG), máy tạo áp lực ngắt quãng (IPC). Trong thực hành lâm sàng ở bệnh nhân CVD từ giai đoan C0s -C5 thường sử dụng ECS và ACG. IPC thường được sử dụng để điều trị phù cùng với
ESC và ACG hoặc thay thế khi liệu pháp nén áp lực liên tục không dung nạp. Ngoài ra, IPC có vai trò chính trong điều trị loét tĩnh mạch.

1. Tất áp lực, băng không co giãn và ACG
Tất áp lực (ECS) tạo ra một áp lực nhất định, luôn luôn cao hơn ở mắc cá chân so với bắp chân. Tất áp lực được chọn theo hai tiêu chuẩn cơ bản là chiều dài của tất và áp lực tất và được chọn size theo chân của bệnh nhân.
– Chiều dài của tất: Chưa có bằng chứng về chiều dài tối ưu của tất. Trên lâm sàng, tất đùi thường được sử dụng trong những trường hợp phù chân, huyết khối tĩnh mạch hiển lớn trên gối, sau can thiệp tĩnh mạch, sau phẩu thuật lấy bỏ tĩnh mạch. Những trường hợp còn lại, thường sử dụng tất gối.
– Áp lực của tất

 

Theo hội ESVS 2022 thì:
– Đối với bệnh nhân CVD có triệu chứng, tất áp lực với áp lực tại mắt cá chân ít nhất 15 mmHg được khuyến cáo để giảm các triệu chứng tĩnh mạch (IB).
– Đối với bệnh nhân CVD và phù (C3 theo CEAP) ,sử dụng tất áp lực dưới gối, băng không co giãn hoặc thiết bị có thể thay đổi áp lực, với áp lực tại mắt cá chân từ 20-40 mmHg được khuyến cáo để giảm phù (IB)
– Bệnh nhân CVD với biểu hiện teo mỡ da (C4b), sử dụng tất áp lực dưới gối với áp lực 20-40 mmHg, được khuyến cáo để giảm xơ mỡ dưới da (IB)
– Bệnh nhân hội chứng hậu huyết khối, tất áp lực dưới gối với áp lực 20-40 mmHg taị mắt cá trong được cân nhắc dùng để giảm độ nặng (IIa B)

2. Chỉ định
Tất áp lực được khuyến cáo là phương pháp điều trị hiệu quả để kiểm soát triệu chứng của bệnh tĩnh mạch mạn tính nhưng không được điều trị khỏi nguồn gốc trào ngược (IB). Khi bệnh nhân có dòng trào ngược có thể điều trị được bằng những phương pháp dứt điểm thì nên được chỉ định trừ trường hợp có chống chỉ định hoặc bệnh nhân từ chối.
Khuyến cáo không xem điều trị băng ép như là biện pháp bắt buộc đầu tiên cho những trường hợp trào ngược tĩnh mạch bệnh lý khi bệnh nhân thích hợp cho điều trị nội mạch (IA).
Khuyến cáo dùng tất áp lực trong thời gian hậu phẫu sau khi điều trị can thiệp tĩnh mạch suy (IA).
Suy tĩnh mạch chi dưới là bệnh lý mạn tính, bệnh nhân được khuyến cáo dùng vớ áp lực ngay cả sau khi điều trị dứt điểm, áp lực do quyết định lâm sàng của bác sĩ điều trị (IIC).

3. Chống chỉ định
Các chống chỉ định cần lưu ý ở bệnh nhân CVD trước khi dùng liệu pháp áp lực:
+ Bệnh nhân mắc bệnh động mạch chi dưới với ABI < 0.6
+ Suy tim NYHA IV
+ Suy tim NYHA III và tình trạng thay đổi huyết động không được quan sát.
+ Đái tháo đường với bệnh lý thần kinh ngoại biên nặng với mất cảm giác hoặc bệnh lý vi mạch với nguy cơ hoại tử da.
+ Dị ứng với chất liệt của tất,..

4. Khó khăn
Liệu pháp nén áp lực dung nạp tốt với đa số các bệnh nhân. Tuy nhiên, sự tuân thủ điều trị là một thách thức lớn, đặc biệt ở những vùng khí hậu nóng như nước ta.
Một số lý do của bệnh nhân không tuân thủ điều trị như đau, cảm giác khó chịu, nóng và kích ứng da, thẩm mỹ.
Một số bệnh nhân lớn tuổi, béo phì, bệnh lý về khớp gặp khó khăn trong việc mang tất. Những dụng cụ hỗ trợ mang tất đã mang lại lợi ích đáng kể (donning and doffing aids).

Ths.Bs.Nguyễn Thị Ngọc Thời

Trung tâm Nội tiết- đái tháo đường Family